Động Vật Có Vú – Mammals

Sơ Lược Về Động Vật Có Vú

Trâu nước rừng hoang dã - Một loài động vật có vú to lớn

Trâu nước rừng hoang dã – Một loài động vật có vú to lớn

Lớp Động Vật Có Vú(Mammalia) bao gồm khoảng 5000 loài. Những thông tin mới dựa trên bằng chứng phân tử và từ các hóa thạch đang thay đổi sự hiểu biết của chúng ta về lớp Mammalia. Chẳng hạn, cá voi gần như chắc chắn phát sinh từ bên trong bộ có guốc móng chẵn Artiodactyla (trâu, bò, dê, cừu, hươu, nai, linh dương…). Về cơ bản, các bằng chứng phân tử cho thấy monotremes (mammalia đẻ trứng như nhím) và các loài động vật có túi (Metatheria) có thể liên quan chặt chẽ hơn đến các mammalia thông thường.

Tất cả các mammalia có ít nhất ba đặc điểm không tìm thấy ở các lớp/nghành động vật khác. Ba xương tai giữa, có lông mao và sản xuất sữa bằng các tuyến vú. Tất cả mammalia cái sản xuất sữa từ tuyến vú của chúng để nuôi con. Do đó, chúng tốn và sử dụng rất nhiều năng lượng cho mỗi đứa con. Điều đó góp phần quan trọng trong quá trình tiến hóa của lớp động vật này về sinh thái và hành vi.

Mammalia có rất nhiều dạng khác nhau. Những động vật có vú nhỏ nhất được tìm thấy là chuột và dơi. Động vật có vú lớn nhất hành tinh là cá voi xanh, có thể nặng 160 tấn. Như vậy, có sự khác biệt lên đến 53 triệu lần khối lượng giữa các động vật có vú lớn nhất và nhỏ nhất. Mammalia đã phát triển để sống và thích nghi nhiều hệ sinh thái khác nhau và để tận dụng các lối sống khác nhau.

Nơi sống, đặc điểm sinh lý

Nơi Sống

Các loài động vật có vú khác nhau đã tiến hóa để sống trong hầu hết các sinh cảnh trên cạn và dưới nước. Chúng thậm chí sống trong bất kỳ sinh vật khác, từ sa mạc đến rừng mưa nhiệt đới và cả những nơi băng giá. Nhiều loài ở trên cây, tận dụng hoặc hầu hết thời gian trong tán rừng để săn mồi, ẩn nấp. Đặc biệt là dơi có thể phát triển khả năng bay bằng cách tiến hóa chi trước thành dạng cánh có màng da.

Gấu Bắc Cực

Gấu Bắc Cực cùng gấu con

Nhiều loài động vật có vú sống dưới nước, sống gần các hồ, suối hoặc bờ biển(ví dụ như hải cẩu, sư tử biển, rái cá nhiều loài khác). Cá voi và cá heo (Cetacea) có thể sống dưới nước và có thể tìm thấy ở tất cả các đại dương trên thế giới hoặc một số hệ thống sông lớn. Cá voi có thể được tìm thấy ở vùng cực, ôn đới và nhiệt đới, cả gần bờ và trong lòng đại dương.

Cá Voi Xanh

Cá Voi Xanh

Đặc Điểm Sinh Lý

Tất cả mammalia có lông đều mọc đầy đủ lông và hình thái về màu sắc, độ bóng ở tuổi trưởng thành. Lông con, được cấu tạo từ protein có tên keratin.

Lông có 4 chức năng chính:
Thứ nhất, nó làm chậm việc trao đổi nhiệt với môi trường (cách điện).
Thứ hai, có chức năng cảm giác, để cho một con vật biết khi nó tiếp xúc với một vật trong môi trường.
Thứ ba, lông giúp chúng ngụy trang trước kẻ thù hoặc con mồi. Đồng thời phản ánh giới tính của loài.
Thứ tư, lông cung cấp khả năng bảo vệ như chống nắng hoặc giữ ấm hoặc bằng biến hóa thành gai để ngăn ngừa các loài săn mồi.

Loài nhím

Loài nhím – lông biến đổi thành dạng gai

Răng được thay thế chỉ một lần trong đời của động vật có vú. Các đặc điểm khác được tìm thấy ở hầu hết các loài động vật có vú: hàm dưới tạo thành từ một xương đơn, tim có 4 vách, có vòm miệng thứ hai tách không khí và thức ăn vào miệng; Một cơ hoành ngăn cách các khoang ngực và ổ bụng. Một bộ não phát triển cao. Giới tính riêng biệt, giới tính của phôi được xác định bởi sự hiện diện của một nhiễm sắc thể Y hoặc 2 X và thụ tinh trong.

Sư Tử

Sư Tử Đực

Sinh sản

Hầu hết các loài động vật có vú đều sinh sản hữu tính theo mùa. Nhiều nhóm mammalia sinh sản lưỡng hình giới tính.

Khoảng 3% số loài sinh sản theo chế độ một vợ một chồng. Mỗi con đực giao phối với một con cái một mùa. Khi số lượng quần thể thấp, con đực có thể giao phối với một con cái duy nhất. Khi số lượng quần thể đông hơn, con cái có thể tự chăm sóc con một mình, con đực sẽ cố gắng sinh con với nhiều con cái.

Hổ cái và hổ con

Hổ cái và hổ con

Hầu hết Mammalia sử dụng hố hoặc tổ để bảo vệ con non. Tuy nhiên, một số loài sau khi sinh ra phát triển tốt và có thể tự vận động cơ thể sau khi sinh. Điển hình là trâu, bò, hươu cao cổ. Cá voi con trong Bộ cá voi cũng phải bơi tự phát ngay sau khi sinh.

Linh cẩu

Linh cẩu cái và con con

Tuổi thọ của động vật có vú dao động từ một năm đến 70 năm hoặc nhiều hơn. Cá voi đầu bò có thể sống được hơn 200 tuổi.

Hành vi

Đa dạng về loại hình sống, bao gồm lối sống ăn tạp, thủy sinh, trên mặt đất và trên không. Các phong cách vận động cũng rất đa dạng: bơi lội, chạy, bay, lượn, leo trèo…

Khỉ Đỏ

Khỉ Đỏ

Hành vi xã hội và các mô hình hoạt động cũng khác nhau. Chúng sống trong các nhóm hàng chục, hàng trăm, hàng ngàn cá thể.

Bò rừng

Một đàn bò rừng

Thính giác, cảm giác, xúc giác, và tầm nhìn xa là những phương thức cảm quan quan trọng ở động vật có vú, đóng một vai trò quan trọng trong nhiều khía cạnh của sinh thái học bao gồm: tìm kiếm, giao phối và tương tác bầy đàn/loài. Thính giác và tầm nhìn phát triển tốt ở một số lượng lớn của lớp.

Báo Đốm

Báo Đốm

Mammalia có thể là loài ăn thịt, ăn cỏ hoặc loài ăn tạp. Chúng ăn động vật không xương sống và có xương sống, thực vật và nấm.

Chuột đồng

Chuột đồng

Tác động kinh tế đối với con người

Động vật có vú là nguồn tài nguyên kinh tế quan trọng cho con người. Nhiều động vật có vú đã được thuần hóa để cung cấp các sản phẩm như thịt và sữa. Nhiều loài là vật nuôi(chó, mèo, chồn sương). Chúng cũng rất quan trọng đối với ngành du lịch sinh thái. Người ta đi đến vườn thú để xem các loài động vật như voi, sư tử, hoặc cá voi. Những con dơi thường giúp kiểm soát các quần thể dịch hại của cây trồng. Chuột ở Na Uy và chuột bạch rất quan trọng trong nghiên cứu khoa học – y học.

Bò Sữa

Bò Sữa

Mặt khác, một số loài có ảnh hưởng bất lợi đến con người và hệ sinh thái. Nhiều loài ăn trái cây, hạt giống và các loại thực vật khác. Động vật ăn thịt thường là một mối đe dọa đối với gia súc và thậm chí đối với cuộc sống con người. Nhiều loài ở khu vực thành thị hoặc ngoại ô đã gây ra tai nạn ô tô khi đi lạc.

Một con voi băng qua đường ray xe lửa

Một con voi băng qua đường ray xe lửa

Nhiều loài thậm chí có thể truyền bệnh cho người hoặc vật nuôi. Bệnh dịch hạch có lẽ là ví dụ được biết đến nhiều nhất, lây lan qua loài gặm nhấm.

Thỏ rừng

Thỏ rừng


(Chú ý: bài viết chúng tôi sử dụng hình ảnh sưu tầm từ internet. Thông thường, những hình ảnh được gắn nhãn sử dụng lại sẽ được sử dụng. Nếu không, chúng tôi sẽ trích dẫn rõ nguồn của ảnh)

Bài viết được rút gọn từ nguồn: http://eol.org/info/mammals

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *